Lĩnh vực : Hình sự
Đối tượng : Cá nhân
Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, không phải mọi hành vi nguy hiểm cho xã hội đều dẫn đến trách nhiệm hình sự. Một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự quan trọng là tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Quy định này được ghi nhận rõ ràng tại điều 21 bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là văn bản pháp luật hiện hành áp dụng.
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trường hợp người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không phải chịu trách nhiệm hình sự do mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình tại thời điểm thực hiện hành vi.
Cụ thể, theo điều 21 bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017):
“Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.”
Điều này có nghĩa là:
Để được công nhận thuộc trường hợp này, cần đáp ứng hai dấu hiệu chính:
Người đó đang mắc bệnh tâm thần (rối loạn tâm thần kinh niên, rối loạn tâm thần tạm thời) hoặc một bệnh khác (ví dụ: Động kinh nặng, tổn thương não bộ nghiêm trọng, rối loạn tâm thần do nguyên nhân thực thể…) làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi.
Tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, người đó mất hoàn toàn khả năng:
Lưu ý quan trọng:
Việc xác định tình trạng này bắt buộc dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần (theo điều 206 bộ luật tố tụng hình sự 2015). Các cơ quan tiến hành tố tụng (công an, viện kiểm sát, tòa án) phải trưng cầu giám định khi có nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự.
Nếu kết luận giám định khẳng định thuộc trường hợp điều 21 thì miễn trách nhiệm hình sự.
Viện kiểm sát hoặc tòa án có thể quyết định áp dụng biện pháp tư pháp bắt buộc chữa bệnh (điều 49 BLHS), đưa vào cơ sở điều trị chuyên khoa để chữa bệnh bắt buộc.
- Mắc bệnh tâm thần sau khi phạm tội nhưng trước khi bị kết án: Người phạm tội khi còn đủ năng lực, nhưng sau đó mắc bệnh đến mức mất khả năng nhận thức/điều khiển hành vi thì tòa án có thể quyết định bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự (khoản 2 điều 49 BLHS).
- Người tâm thần gây thiệt hại: Không bị truy cứu hình sự, nhưng có thể phải bồi thường dân sự (theo quy định của bộ luật dân sự).
Quy định tại điều 21 BLHS thể hiện tính nhân đạo và khoa học của pháp luật Việt Nam:
Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự theo điều 21 bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là một trong những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự quan trọng nhất, áp dụng cho người mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức/điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội. Việc áp dụng phải dựa trên kết luận giám định pháp y tâm thần chính thức.
Nếu bạn hoặc người thân gặp trường hợp liên quan đến vấn đề này, nên tham khảo ý kiến luật sư hình sự hoặc cơ quan tư pháp để được hướng dẫn cụ thể, đảm bảo quyền lợi theo đúng quy định pháp luật hiện hành.