Tìm hiểu về hành vi hành chính
Trong hoạt động quản lý nhà nước, cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước thường xuyên thực hiện các hoạt động nhằm tổ chức thi hành pháp luật, quản lý xã hội và giải quyết công việc liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Bên cạnh việc ban hành quyết định hành chính, các cơ quan và người có thẩm quyền còn thực hiện nhiều hành vi cụ thể trong quá trình thực thi công vụ như cấp giấy chứng nhận, thu hồi giấy phép, kiểm tra hoạt động kinh doanh, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính, giải quyết hồ sơ hoặc không thực hiện nhiệm vụ theo quy định pháp luật.
Những hoạt động này có thể được xác định là hành vi hành chính nếu đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Trong lĩnh vực tố tụng hành chính, việc xác định chính xác hành vi hành chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là cơ sở để cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện vụ án hành chính, yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp khi cho rằng hành vi của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền đã xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Vậy hành vi hành chính là gì? Hành vi hành chính có những đặc điểm và ý nghĩa pháp lý như thế nào? Nội dung dưới đây sẽ phân tích cụ thể theo quy định của luật tố tụng hành chính Việt Nam.
Cơ sở pháp lý quan trọng để xác định hành vi hành chính là luật tố tụng hành chính số 93/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung qua các văn bản pháp luật có liên quan.
Đáng chú ý, luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 đã sửa đổi, bổ sung một số quy định của luật tố tụng hành chính và có hiệu lực từ ngày 1/7/2025. Vì vậy, khi tìm hiểu vấn đề này cần đối chiếu quy định hiện hành, trong đó có văn bản hợp nhất số 109/VBHN-VPQH ngày 27/8/2025.
Theo khoản 3 điều 3 luật tố tụng hành chính năm 2015:
Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, khoản 4 điều 3 quy định về hành vi hành chính bị kiện như sau:
Hành vi hành chính bị kiện là hành vi quy định tại khoản 3 điều này mà hành vi đó làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Từ những quy định trên, có thể hiểu hành vi hành chính là những hoạt động hoặc sự không thực hiện hoạt động của chủ thể có thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
Hành vi hành chính có thể được thể hiện thông qua những hành động cụ thể như kiểm tra, thanh tra, cưỡng chế, thu hồi giấy tờ, tổ chức thực hiện quyết định quản lý nhà nước hoặc thông qua việc không thực hiện nhiệm vụ mà pháp luật quy định phải thực hiện.
Một điểm cần đặc biệt lưu ý là không phải mọi hành vi hành chính đều là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính. Chỉ những hành vi đáp ứng điều kiện của hành vi hành chính bị kiện và không thuộc trường hợp bị loại trừ khỏi thẩm quyền giải quyết của tòa án mới có thể trở thành đối tượng khởi kiện theo luật tố tụng hành chính.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm hành vi hành chính, có thể xem xét một số tình huống thường gặp sau đây:
Một cá nhân nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận theo quy định pháp luật. Cơ quan có thẩm quyền đã tiếp nhận hồ sơ nhưng không giải quyết, không trả lời hoặc không thực hiện nhiệm vụ trong thời hạn luật định mà không có căn cứ hợp pháp.
Trong trường hợp này, việc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ có thể được xác định là hành vi hành chính. Nếu hành vi đó ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân thì có thể xem xét là hành vi hành chính bị kiện.
Cơ quan có thẩm quyền tổ chức cưỡng chế đối với tài sản hoặc quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức nhưng việc thực hiện không đúng trình tự, thủ tục hoặc vượt quá phạm vi thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Hành vi tổ chức cưỡng chế trong trường hợp này có thể là đối tượng xem xét khởi kiện nếu đáp ứng các điều kiện pháp luật quy định.
Cá nhân, doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ điều kiện và thực hiện đúng thủ tục đề nghị cấp giấy phép kinh doanh thuộc thẩm quyền của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, cơ quan có thẩm quyền không thực hiện việc cấp giấy phép theo quy định mà không có lý do hợp pháp.
Việc không thực hiện nhiệm vụ này có thể cấu thành hành vi hành chính bị kiện nếu làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người đề nghị cấp phép.
Người có thẩm quyền tiến hành kiểm tra hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhưng thực hiện việc kiểm tra không đúng thẩm quyền, không đúng trình tự hoặc có hành vi gây cản trở trái pháp luật đối với hoạt động kinh doanh.
Tùy theo tính chất, nội dung và hậu quả pháp lý của hành vi, doanh nghiệp có thể xem xét sử dụng quyền khiếu nại hoặc khởi kiện vụ án hành chính để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Hành vi hành chính có những đặc điểm pháp lý riêng biệt, giúp phân biệt với các hành vi pháp lý khác trong hoạt động quản lý nhà nước. Những đặc điểm cơ bản bao gồm:
Đây là đặc điểm quan trọng để xác định một hành vi có phải là hành vi hành chính theo luật tố tụng hành chính hay không.
Theo khoản 3 điều 3 luật tố tụng hành chính, chủ thể thực hiện hành vi hành chính bao gồm:
Như vậy, không phải bất kỳ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào thực hiện một hoạt động có liên quan đến quản lý xã hội cũng được xem là chủ thể thực hiện hành vi hành chính.
Chủ thể phải có thẩm quyền hoặc được giao thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước theo quy định pháp luật.
Ví dụ: Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước thuộc thẩm quyền của mình; cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, quản lý theo sự phân công và quy định pháp luật.
Đối với cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước, cần xem xét cụ thể phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn được giao để xác định tính chất pháp lý của hành vi.
Đặc điểm nổi bật của hành vi hành chính là có thể tồn tại dưới hai hình thức: Thực hiện hành động hoặc không thực hiện hành động.
Đây là trường hợp cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền thực hiện một hoạt động cụ thể trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Ví dụ:
Đây là trường hợp cơ quan hoặc người có thẩm quyền không thực hiện nhiệm vụ, công vụ mà pháp luật quy định phải thực hiện.
Ví dụ:
Việc pháp luật thừa nhận hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ là hành vi hành chính có ý nghĩa rất lớn. Bởi trên thực tế, sự im lặng, trì hoãn hoặc không thực hiện trách nhiệm của cơ quan nhà nước cũng có thể trực tiếp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Hành vi hành chính không phải là hành vi mang tính chất cá nhân, tùy tiện hoặc không liên quan đến hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Theo quy định tại khoản 3 điều 3, hành vi phải gắn với việc thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật.
Điều này có nghĩa là cần xác định:
Đặc điểm này giúp phân biệt hành vi hành chính với hành vi dân sự, hành vi thương mại, hành vi lao động hoặc những hành vi khác không thuộc hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Không phải mọi hành vi hành chính đều ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, đối với hành vi hành chính bị kiện, khoản 4 điều 3 luật tố tụng hành chính yêu cầu hành vi đó phải làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Sự ảnh hưởng này có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức:
Ví dụ: Một doanh nghiệp đã nộp đầy đủ hồ sơ đề nghị cấp giấy phép theo quy định nhưng cơ quan có thẩm quyền không giải quyết trong thời hạn luật định, khiến doanh nghiệp không thể triển khai hoạt động kinh doanh theo kế hoạch.
Trong trường hợp này, nếu việc không giải quyết hồ sơ là trái pháp luật và ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp thì doanh nghiệp có thể xem xét khởi kiện hành vi hành chính.
Một hành vi hành chính có thể được thực hiện bởi đúng chủ thể quản lý nhà nước nhưng không đồng nghĩa với việc hành vi đó luôn hợp pháp.
Khi xem xét tính hợp pháp của hành vi hành chính, cần đánh giá các yếu tố sau:
- Về thẩm quyền: Chủ thể thực hiện hành vi có đúng thẩm quyền được pháp luật quy định hay không?
- Về căn cứ pháp lý: Hành vi có được thực hiện trên cơ sở quy định pháp luật hay không?
- Về trình tự, thủ tục: Việc thực hiện hành vi có tuân thủ đầy đủ trình tự, thủ tục pháp luật quy định hay không?
- Về nội dung: Nội dung và phạm vi thực hiện hành vi có phù hợp với quy định pháp luật hay không?
- Về thời hạn: Chủ thể có thực hiện nhiệm vụ, công vụ trong thời hạn luật định hay không?
Nếu hành vi hành chính vi phạm các quy định pháp luật và làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì người bị ảnh hưởng có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết hoặc khởi kiện vụ án hành chính theo quy định.
Đây là đặc điểm thể hiện rõ nhất ý nghĩa tố tụng của hành vi hành chính.
Theo điều 30 luật tố tụng hành chính, khiếu kiện hành vi hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án, trừ những trường hợp luật định, bao gồm:
Như vậy, cá nhân, tổ chức có quyền khởi kiện đối với hành vi hành chính bị kiện khi đáp ứng các điều kiện theo quy định pháp luật.
Việc khởi kiện không chỉ nhằm yêu cầu chấm dứt hành vi trái pháp luật mà còn nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị ảnh hưởng.
Việc quy định và xác định hành vi hành chính trong luật tố tụng hành chính có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa:
Đây là ý nghĩa quan trọng hàng đầu của việc quy định hành vi hành chính là một trong những đối tượng khởi kiện vụ án hành chính.
Trong thực tế, cá nhân và doanh nghiệp có thể bị ảnh hưởng bởi hành vi thực hiện không đúng pháp luật hoặc việc không thực hiện nhiệm vụ của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền.
Nếu pháp luật chỉ cho phép khởi kiện quyết định hành chính mà không cho phép khởi kiện hành vi hành chính thì nhiều trường hợp xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp sẽ không có cơ chế bảo vệ hiệu quả bằng con đường tố tụng hành chính.
Việc quy định quyền khởi kiện đối với hành vi hành chính giúp cá nhân, tổ chức có thêm phương thức pháp lý để yêu cầu tòa án xem xét, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền được trao quyền thực hiện hoạt động quản lý nhà nước. Tuy nhiên, việc thực hiện quyền lực này phải nằm trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật.
Thông qua cơ chế khởi kiện hành vi hành chính, hoạt động thực thi công vụ của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền có thể được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát của tòa án.
Điều này góp phần:
Đây là cơ chế quan trọng nhằm bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng mục đích, đúng phạm vi và chịu sự kiểm soát theo pháp luật.
Việc xác định hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện giúp nâng cao tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước.
Khi biết rằng hành vi thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ có thể bị khởi kiện và xem xét tại tòa án, cơ quan hành chính nhà nước và người có thẩm quyền phải nâng cao ý thức trách nhiệm trong quá trình giải quyết công việc.
Đặc biệt, đối với những trường hợp chậm trễ, né tránh trách nhiệm, không giải quyết hồ sơ hoặc thực hiện nhiệm vụ không đúng quy định, cơ chế tố tụng hành chính tạo điều kiện để cá nhân, tổ chức yêu cầu cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Qua đó góp phần xây dựng nền hành chính công khai, minh bạch, chuyên nghiệp và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.
Một nền hành chính hoạt động hiệu quả không chỉ đòi hỏi việc ban hành quyết định hành chính đúng pháp luật mà còn phải bảo đảm quá trình tổ chức thực hiện các quyết định, nhiệm vụ quản lý được tiến hành đúng quy định.
Việc kiểm soát hành vi hành chính thông qua hoạt động xét xử của tòa án góp phần phát hiện những sai phạm trong quá trình thực thi công vụ.
Từ đó, các cơ quan nhà nước có cơ sở để chấn chỉnh quy trình làm việc, khắc phục những hạn chế và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công.
Đồng thời, việc giải quyết các khiếu kiện hành chính còn góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy nhà nước và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp đối với cơ quan công quyền.
Quyền khởi kiện vụ án hành chính là một trong những phương thức quan trọng để cá nhân, tổ chức yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
Theo điều 5 luật tố tụng hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Thông qua quyền này, người dân và doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào việc giải quyết khiếu nại của chính cơ quan hành chính nhà nước mà còn có thể yêu cầu cơ quan xét xử độc lập xem xét tính hợp pháp của hành vi bị kiện.
Đây là cơ sở quan trọng để bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền được bảo vệ bằng các phương thức tố tụng hợp pháp.
Hành vi hành chính trái pháp luật có thể gây ra nhiều thiệt hại cho cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.
Chẳng hạn, việc cưỡng chế tài sản trái pháp luật, không giải quyết hồ sơ đúng thời hạn hoặc thực hiện hoạt động kiểm tra vượt quá thẩm quyền có thể gây thiệt hại về tài sản, kinh tế và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.
Theo điều 7 luật tố tụng hành chính, người khởi kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại do hành vi hành chính gây ra trong vụ án hành chính.
Quy định này giúp kết hợp việc xem xét tính hợp pháp của hành vi hành chính với việc giải quyết hậu quả thiệt hại, góp phần bảo vệ toàn diện hơn quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm phạm. Việc giải quyết bồi thường được thực hiện theo pháp luật về trách nhiệm bồi thường của nhà nước và các quy định tố tụng có liên quan.
Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính, việc phân biệt hành vi hành chính với quyết định hành chính có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là hai đối tượng khởi kiện khác nhau theo luật tố tụng hành chính.
Căn cứ điều 3 luật tố tụng hành chính, có thể phân biệt hai khái niệm này như sau:
Tiêu chí | Quyết định hành chính | Hành vi hành chính |
Hình thức | Được thể hiện bằng văn bản | Thể hiện bằng hành động hoặc không hành động |
Nội dung | Quyết định một vấn đề cụ thể trong quản lý hành chính | Thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ |
Chủ thể | Cơ quan, người có thẩm quyền hoặc cơ quan, tổ chức được giao quản lý hành chính nhà nước | Các chủ thể được quy định tại khoản 3 điều 3 |
Cách thức tác động | Thông qua nội dung của quyết định | Thông qua hoạt động thực tế hoặc việc không thực hiện nhiệm vụ |
Đối tượng bị kiện | Quyết định làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp hoặc làm phát sinh nghĩa vụ | Hành vi làm ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, lợi ích hợp pháp |
Ví dụ | Quyết định thu hồi đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính | Hành vi tổ chức cưỡng chế trái pháp luật, không giải quyết hồ sơ theo quy định |
Lưu ý: Một hoạt động thực tế được thực hiện nhằm thi hành quyết định hành chính không đồng nhất với chính quyết định đó. Chẳng hạn, quyết định cưỡng chế và hành vi tổ chức thực hiện việc cưỡng chế là những vấn đề pháp lý cần được xem xét riêng biệt.
Việc xác định đúng đối tượng khởi kiện giúp người khởi kiện lựa chọn yêu cầu phù hợp, xác định đúng người bị kiện và bảo đảm quyền khởi kiện được thực hiện theo quy định pháp luật.
Theo điều 115 luật tố tụng hành chính, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết nhưng hết thời hạn giải quyết mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với kết quả giải quyết.
Như vậy, cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp đều có thể thực hiện quyền khởi kiện nếu có căn cứ cho rằng hành vi hành chính đã ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Để việc khởi kiện được tòa án xem xét, người khởi kiện cần chú ý các điều kiện cơ bản sau:
Đặc biệt, theo điều 116 luật tố tụng hành chính, thời hiệu khởi kiện thông thường đối với hành vi hành chính là 1 năm kể từ ngày người khởi kiện nhận được hoặc biết được hành vi hành chính đó.
Đối với trường hợp đã khiếu nại theo quy định pháp luật, thời hiệu khởi kiện được xác định theo các mốc thời gian và điều kiện cụ thể tại điều 116.
Theo quy định hiện hành tại điều 31 luật tố tụng hành chính, được sửa đổi, bổ sung, tòa án nhân dân khu vực có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm các khiếu kiện hành vi hành chính thuộc phạm vi luật định.
Việc xác định tòa án có thẩm quyền phải căn cứ vào chủ thể thực hiện hành vi, cấp quản lý, nơi cư trú hoặc trụ sở của người khởi kiện và các quy định về thẩm quyền theo lãnh thổ.
Đối với vụ án hành chính, việc xác định đúng tòa án có thẩm quyền là yêu cầu quan trọng để tránh tình trạng đơn khởi kiện bị chuyển hoặc trả lại do không đúng thẩm quyền.
Trong quá trình tư vấn và giải quyết tranh chấp hành chính, việc xác định hành vi hành chính bị kiện cần được thực hiện một cách thận trọng.
Cần xác định hành vi đó có được thực hiện trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật hay không. Hành vi mang tính chất cá nhân, không gắn với hoạt động quản lý hành chính nhà nước không đương nhiên thuộc đối tượng khởi kiện hành chính.
Theo khoản 6 điều 3, hành vi mang tính nội bộ là những hành vi chỉ đạo, điều hành việc triển khai nhiệm vụ, kế hoạch công tác; quản lý, tổ chức cán bộ, kinh phí, tài sản được giao; kiểm tra, thanh tra việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và các đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý.
Theo điểm c khoản 1 điều 30, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức không thuộc đối tượng khiếu kiện theo thủ tục tố tụng hành chính.
Đây là điều kiện quan trọng để xác định hành vi hành chính có phải là hành vi hành chính bị kiện theo khoản 4 điều 3 hay không.
Người khởi kiện nên chuẩn bị các tài liệu như:
Việc chuẩn bị chứng cứ đầy đủ sẽ giúp xác định chính xác hành vi bị kiện, chủ thể thực hiện hành vi và căn cứ pháp lý để yêu cầu tòa án giải quyết.
Hành vi hành chính là một trong những nội dung quan trọng của pháp luật về tố tụng hành chính. Việc quy định hành vi hành chính là đối tượng khởi kiện tại tòa án đã tạo ra cơ chế pháp lý cần thiết để kiểm soát hoạt động thực thi quyền lực nhà nước, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp.
Thông qua việc xác định khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hành vi hành chính, có thể thấy rằng pháp luật không chỉ kiểm soát việc ban hành các quyết định hành chính mà còn kiểm soát cả quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền.
Đặc biệt, việc thừa nhận hành vi không thực hiện nhiệm vụ, công vụ là hành vi hành chính có ý nghĩa thiết thực trong việc hạn chế tình trạng né tránh trách nhiệm, chậm trễ giải quyết thủ tục hành chính và bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân, doanh nghiệp.
Do đó, khi quyền và lợi ích hợp pháp bị ảnh hưởng bởi hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền, cá nhân, tổ chức cần chủ động tìm hiểu quy định pháp luật, xác định đúng đối tượng khởi kiện và thực hiện quyền yêu cầu tòa án bảo vệ theo trình tự, thủ tục luật định.
Trong quá trình hoạt động, cá nhân và doanh nghiệp có thể gặp phải những vướng mắc pháp lý liên quan đến hành vi hành chính của cơ quan nhà nước như không giải quyết hồ sơ đúng thời hạn, thực hiện hoạt động quản lý không đúng thẩm quyền, cưỡng chế trái pháp luật hoặc không thực hiện trách nhiệm theo quy định.
Việc xác định đúng bản chất pháp lý của hành vi, đánh giá căn cứ khởi kiện và xây dựng phương án bảo vệ quyền lợi đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn về pháp luật hành chính và tố tụng hành chính.
Công ty luật TNHH Chuẩn A cung cấp dịch vụ tư vấn và hỗ trợ pháp lý trong lĩnh vực hành chính, bao gồm:
Với định hướng hoạt động chuyên nghiệp, tận tâm và chú trọng hiệu quả pháp lý, Công ty luật TNHH Chuẩn A hướng đến việc hỗ trợ khách hàng nhận diện đúng vấn đề pháp lý, lựa chọn phương án giải quyết phù hợp và bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp theo quy định pháp luật Việt Nam.

Chủ nhật và các ngày lễ nghỉ.