Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam, doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp đóng vai trò là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Để tạo dựng một môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch và bình đẳng, pháp luật Việt Nam, đặc biệt là luật doanh nghiệp đã thiết lập một hệ thống các quy định vững chắc nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh.
Bài viết này sẽ phân tích toàn diện và chuyên sâu về các chính sách, biện pháp bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp theo quy định của luật doanh nghiệp hiện hành, giúp các nhà đầu tư vững tâm khi gia nhập thị trường.
Bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp không đơn thuần là những lời cam kết chính trị, mà là những nguyên tắc pháp lý tối cao được thể chế hóa từ hiến pháp cho đến các văn bản luật chuyên ngành.
Hiến pháp Việt Nam khẳng định quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Luật doanh nghiệp đóng vai trò cụ thể hóa quyền hiến định này bằng cách thiết lập cơ chế vận hành, thủ tục hành chính thông thoáng và các ranh giới pháp lý để bảo vệ quyền tự do đó. Sự bảo đảm này thể hiện sự chuyển dịch mạnh mẽ của nhà nước từ vai trò "quản lý, kiểm soát" sang vai trò "kiến tạo, đồng hành và phục vụ" doanh nghiệp.
Môi trường kinh doanh luôn chứa đựng những rủi ro mang tính thị trường. Tuy nhiên, rủi ro về mặt pháp lý và chính sách là điều có thể giảm thiểu được nếu có sự cam kết vững chắc từ phía nhà nước. Các quy định về bảo đảm của nhà nước giúp chủ sở hữu doanh nghiệp yên tâm bỏ vốn đầu tư dài hạn, giảm bớt tâm lý lo ngại về sự thay đổi chính sách đột ngột hoặc các hành vi can thiệp tùy tiện từ cơ quan công quyền.
Luật doanh nghiệp quy định rất rõ ràng các nội dung bảo đảm mang tính nền tảng, tạo thành "lá chắn pháp lý" bảo vệ sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này được thể hiện qua các khía cạnh:
- Tự do lựa chọn ngành, nghề, địa bàn kinh doanh: Doanh nghiệp có quyền kinh doanh bất kỳ ngành, nghề nào mà pháp luật không cấm. Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nhà nước có trách nhiệm công khai, minh bạch các điều kiện đó để doanh nghiệp chủ động đáp ứng.
- Tự do lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh: Nhà đầu tư có quyền quyết định thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh hoặc doanh nghiệp tư nhân phù hợp với quy mô và chiến lược phát triển của mình.
- Chủ động trong hoạt động sản xuất kinh doanh: Doanh nghiệp được tự chủ tìm kiếm thị trường, khách hàng, ký kết hợp đồng, tự chủ huy động vốn, phân phối lợi nhuận và quyết định các vấn đề nội bộ mà không bị can thiệp trái pháp luật bởi các cơ quan hành chính nhà nước.
Tài sản là cốt lõi của hoạt động kinh doanh. Luật doanh nghiệp khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc:
- Vốn đầu tư, tài sản, thu nhập và các lợi ích hợp pháp khác của doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp được nhà nước thừa nhận và bảo hộ.
Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng tài sản của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải được thanh toán hoặc bồi thường theo giá thị trường tại thời điểm trưng mua, trưng dụng. Quy định này tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc công bằng, không gây thiệt hại bất hợp lý cho doanh nghiệp.
Một trong những bước tiến lớn của luật doanh nghiệp qua các thời kỳ là xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế.
Doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế.
Tất cả các doanh nghiệp đều tiếp cận bình đẳng các nguồn lực đầu tư, tín dụng, đất đai, tài nguyên, thông tin và các cơ hội kinh doanh do nhà nước tạo ra.
Chủ sở hữu doanh nghiệp (thành viên góp vốn, cổ đông, chủ doanh nghiệp tư nhân) là những người chấp nhận rủi ro tài chính để đầu tư vào nền kinh tế. Luật doanh nghiệp thiết lập các cơ chế bảo vệ riêng biệt dành cho đối tượng này nhằm thúc đẩy dòng vốn đầu tư xã hội.
Khi nhà đầu tư chuyển quyền sở hữu tài sản của mình thành vốn góp hoặc cổ phần của công ty, nhà nước bảo hộ quyền sở hữu đối với các quyền tài sản phát sinh từ phần vốn đó:
- Quyền được chia lợi nhuận: Chủ sở hữu có quyền nhận cổ tức, lợi nhuận tương ứng với tỷ lệ vốn góp khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi và đã hoàn thành các nghĩa vụ tài chính.
- Quyền định đoạt: Chủ sở hữu có quyền chuyển nhượng, tặng cho, để thừa kế phần vốn góp hoặc cổ phần của mình theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty. Nhà nước bảo đảm các giao dịch này diễn ra hợp pháp và được ghi nhận công khai tại cơ quan đăng ký kinh doanh.
Nhà nước tôn trọng quyền tự quyết của chủ sở hữu trong việc thiết lập bộ máy quản trị:
- Chủ sở hữu có quyền tham gia vào hội đồng thành viên, đại hội đồng cổ đông để biểu quyết các quyết định quan trọng của doanh nghiệp như định hướng phát triển, bầu hoặc bãi miễn người quản lý, sửa đổi điều lệ công ty.
- Pháp luật bảo vệ quyền của các cổ đông hoặc nhóm cổ đông thiểu số, tránh tình trạng bị các cổ đông lớn lạm dụng quyền lực chèn ép, thông qua các cơ chế như bỏ phiếu đại diện, quyền yêu cầu hủy bỏ nghị quyết không hợp pháp của đại hội đồng cổ đông.
Để bảo vệ quyền lợi của mình, chủ sở hữu doanh nghiệp cần phải biết rõ tình trạng hoạt động của công ty. Luật doanh nghiệp bảo đảm quyền của chủ sở hữu trong việc:
Xem xét, tra cứu, sao chép hoặc trích lục danh sách thành viên/cổ đông, sổ kế toán, báo cáo tài chính hằng năm, biên bản họp của các cơ quan quản lý;
Nhà nước buộc doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ hoặc bất thường, giúp chủ sở hữu kiểm soát được rủi ro đầu tư.
Các cam kết bảo đảm của nhà nước sẽ trở nên vô nghĩa nếu không có một bộ máy công quyền thực thi nghiêm túc. Luật doanh nghiệp quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm hiện thực hóa các chính sách bảo đảm này.
Nhà nước có trách nhiệm xây dựng một hệ thống thủ tục hành chính thông thoáng, nhanh chóng và tiết kiệm cho doanh nghiệp:
- Hệ thống thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp: Việc ứng dụng công nghệ thông tin giúp doanh nghiệp có thể đăng ký thành lập, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh qua mạng điện tử, giảm thiểu tối đa sự can thiệp trực tiếp của cán bộ công quyền, hạn chế tiêu cực.
- Rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ: Thời hạn cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được khống chế ở mức rất ngắn (thông thường trong vòng 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ).
Để bảo vệ doanh nghiệp trước sự lạm quyền của một bộ phận cán bộ, pháp luật quy định nghiêm cấm:
Các cơ quan quản lý nhà nước tự ý đặt ra các thủ tục, giấy phép con trái quy định của pháp luật;
Yêu cầu doanh nghiệp cung cấp các giấy tờ, hồ sơ nằm ngoài danh mục quy định;
Hành vi kéo dài thời gian giải quyết thủ tục hành chính, gây khó khăn, phiền hà cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Hoạt động kiểm tra của các cơ quan chức năng (thuế, môi trường, phòng cháy chữa cháy, lao động...) là cần thiết nhưng phải tuân thủ đúng nguyên tắc:
Không trùng lặp, không chồng chéo, không làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường của doanh nghiệp;
Các cuộc thanh tra, kiểm tra phải có kế hoạch được phê duyệt trước và phải thông báo cho doanh nghiệp, trừ trường hợp thanh tra đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật rõ ràng.
Mặc dù luật doanh nghiệp và các văn bản liên quan đã tạo ra một khung khổ pháp lý tương đối toàn diện, thực tiễn áp dụng vẫn đặt ra một số thách thức đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện.
Đôi khi, các quy định thông thoáng của luật doanh nghiệp lại gặp phải rào cản từ các luật chuyên ngành khác (như luật về đất đai, môi trường, xây dựng, đầu tư công...). Sự bất cập, thiếu đồng bộ này có thể làm giảm hiệu quả thực tế của các biện pháp bảo đảm từ nhà nước.
Tình trạng "trên nóng, dưới lạnh" hoặc việc hiểu và áp dụng pháp luật không thống nhất giữa các địa phương đôi lúc vẫn gây khó khăn cho doanh nghiệp. Một số thủ tục hành chính ở cấp cơ sở vẫn còn rườm rà, kéo dài hơn so với thời hạn luật định.
Để nâng cao hiệu quả bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp, hệ thống pháp luật Việt Nam cần hướng tới:
- Đồng bộ hóa hệ thống pháp luật kinh doanh: Đảm bảo tính thống nhất tối đa giữa luật doanh nghiệp, luật đầu tư và các luật chuyên ngành khác.
- Nâng cao chế tài xử lý vi phạm đối với cán bộ công quyền: Xử lý nghiêm các hành vi lạm quyền, nhũng nhiễu, gây thiệt hại cho doanh nghiệp nhằm răn đe và xây dựng một nền hành chính phục vụ thực chất.
- Tăng cường cơ chế đối thoại: Duy trì thường xuyên các diễn đàn, buổi đối thoại giữa chính quyền và cộng đồng doanh nghiệp để kịp thời lắng nghe, tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tế.
Bảo đảm của nhà nước đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp theo quy định của luật doanh nghiệp là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của môi trường đầu tư tại Việt Nam. Việc thấu hiểu sâu sắc các quyền lợi được pháp luật bảo hộ giúp doanh nghiệp và các nhà đầu tư có được một điểm tựa vững chắc, tự tin hoạch định chiến lược kinh doanh dài hạn, đóng góp tích cực vào sự thịnh vượng chung của đất nước. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự cam kết đồng hành và bảo vệ từ phía nhà nước sẽ luôn là ngọn hải đăng dẫn đường cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam vượt sóng vươn xa.
Từ khóa:

Chủ nhật và các ngày lễ nghỉ.